Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

Để đảm bảo quyền con người không bị xâm phạm và luôn được bảo vệ, tôn trọng thì đa số các quốc gia trên thế giới đã ban hành luật xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đều ghi nhận là Nhà nước phải có trách nhiệm đối với những hậu quả do cán bộ, công chức Nhà nước gây ra trong quá trình thực thi công vụ. Sau đây, Luật Tuệ An sẽ giải đáp thắc mắc của quý vị về vấn đề trên thông qua bài viết Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

Cơ sở pháp lý

Khái niệm bồi thường thiệt hại của nhà nuwocs

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 quy định về người bị thiệt hại được hiểu như sau “1. Người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Luật này”.

Mặt khác, Khoản 2 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 người thi hành công vụ “2. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án”

Như vậy, có thể hiểu bồi thường thiệt hại của nhà nước là sự bù đắp tổn thất về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra.

Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

Đối tượng có quyền yêu cầu bồi thường

Theo quy định Điều 5 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 thì những người sau đây có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường:

  • Người bị thiệt hại.
  • Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại.
  • Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;
  • Cá nhân, pháp nhân được những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3  Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017  ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước do người thi hành công vụ gây thiệt hại

Theo khoản 2 Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017, để xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng khi có các căn cứ sau:

  • Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;
  • Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;
  • Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau:

  • có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng như đã nêu ở trên.
  • có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017
  • có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

Quyền của người yêu cầu bồi thường

Theo khoản 1 Điều 13 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017, Người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có quyền sau đây:

  • Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và được thông báo kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường;
  • Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về tố tụng hành chính; khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng;
  • Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật;
  • Nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;
  • Được cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hướng dẫn thủ tục yêu cầu bồi thường;
  • Ủy quyền theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cá nhân, pháp nhân khác thực hiện quyền yêu cầu bồi thường;
  • Quyền khác theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ của người yêu cầu bồi thường

Người yêu cầu bồi thường là người bị thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:

  • Cung cấp kịp thời, chính xác, trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình;
  • Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường;
  • Chứng minh những thiệt hại thực tế của mình được bồi thường theo quy định tại Luật này và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại;
  • Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Quyền của người thi hành công vụ gây thiệt hại

Người thi hành công vụ gây thiệt hại có quyền sau đây:

  • Được nhận văn bản, quyết định về việc giải quyết yêu cầu bồi thường liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này;
  • Tố cáo hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật về tố cáo; khiếu nại, khởi kiện quyết định hoàn trả và kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật về khiếu nại, pháp luật về tố tụng hành chính;
  • Quyền khác theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ của người thi hành công vụ gây thiệt hại

Người thi hành công vụ gây thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:

  • Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp thông tin, tài liệu của mình;
  • Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả theo yêu cầu của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
  • Hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
  • Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Thời hiệu yêu cầu bồi thường

Căn cứ theo Điều 6 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017, thời hiệu yêu cầu bồi thường được quy định như sau:

  • Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này và trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự.
  • Thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.

Đây là thời hiệu yêu cầu bồi thường trong trường hợp thông thường, còn đối với những trường hợp đặc biệt như: khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường hay khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới thì khoảng thời gian này sẽ không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường và người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh được khoảng thời gian không tính vào thời hiệu này.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác về Dân sự tại đây:

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Mọi khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.