Có phải thông báo có việc làm khi đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp?

Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ giúp người lao động chia sẻ một phần gánh nặng về tài chính trong giai đoạn chưa tìm được việc làm. Tuy nhiên, việc thực hiện đúng thủ tục về chế độ này gây ra nhiều sự lúng túng cho người lao động. Có câu hỏi đặt ra, trong quá trình đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà có việc làm thì có cần thiết phải thông báo có việc làm hay không?Để giải đáp câu hỏi trên nhằm hỗ trợ người lao động thực hiện đúng thủ tục, Luật Tuệ An có những tư vấn cụ thể như sau:

 Căn cứ pháp lý

  • Nghị định 28/2015/ND-CP hướng dẫn một số điều của luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp
  • Nghị định 61/2020/ND-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 28/2015/ND-CP
  • Nghị định 28/2020/ND-CP xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động,  bảo hiểm xã hội và đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà có việc làm thì phải thông báo có việc làm

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 21 Nghị định 28/2015/ND-CP quy định các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong đó trường hợp “có việc làm” thì người lao động sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Mặt khác, việc xác định thời điểm có việc làm là từ khi nào thì được hướng dẫn cụ thể bởi nghị định 61/2020/ND-CP, căn cứ tại Khoản 9 Điều 1 xác định người lao động có việc làm thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đã giao kết hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên.

– Có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

– Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp.

– Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm.

Ngày mà người lao động xác định là có việc làm là ngày được ghi trong hợp đồng lao động, trong quyết định nghỉ việc, ngày mà người lao động thông báo bắt đầu hoạt động kinh doanh, hoặc ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động, tùy vào từng trường hợp mà người lao động đã xác lập. Nếu người lao động đã xác lập một trong các mối quan hệ nêu trên thì cần phải thông báo ngay đến trung tâm dịch vụ việc làm (nơi đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp) để chấm dứt hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Có phải thông báo có việc làm khi đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Thời hạn thông báo có việc làm đến trung tâm dịch vụ việc làm

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày người lao động thuộc các trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đã nêu ở phần trên, thì người lao động phải đến thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng thời, người lao động cần phải gửi kèm các bản sao các giấy tờ như: hợp đồng lao động, quyết định bổ nhiệm, giấy nhận đăng ký kinh doanh hoặc một số các giấy tờ liên quan khác để chứng minh người lao động đã có việc làm. Trường hợp gửi theo đường bưu điện thì sẽ tính theo ngày ghi trên dấu bưu điện.

Người lao động bắt buộc phải thông báo tình trạng đã có việc làm khi đang trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, việc thông báo này nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động, cũng như hạn chế những vi phạm trong hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ tương ứng với thời gian còn lại mà người lao động chưa nhận trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Do đó, trong thời gian đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động thông báo có việc làm thì số thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được bảo lưu lại cho lần sau khi người lao động đủ điều kiện.

Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, nếu người lao động không thông báo đã có việc làm, đồng thời trong thời gian đó vẫn nhận trợ cấp thất nghiệp thì sẽ bị áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 28/2020 xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động. Do đó, người lao động có thể bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng và buộc nộp lại cho trung tâm dịch vụ việc làm (nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp) số tiền trợ cấp thất nghiệp đã nhận. 

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về vấn đề “Có phải thông báo có việc làm khi đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp”. Nếu còn vướng mắcchưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn lao động và bảo hiểmLuật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580 nhấn phím số 4

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác tại đây:

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Mọi khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Add Comment

Luật Gia An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.