Cưỡng đoạt tài sản là gì? Quy định của pháp luật về Cưỡng đoạt tài sản

Cưỡng đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm khá phổ biến được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Tuy nhiên trên thực tế nhiều người vẫn chưa hiểu rõ về loại tội này. Hành vi như thế nào được cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản? Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định như thế nào trong Bộ luật? Bài viết dưới đây của Luật Tuệ An sẽ làm rõ về vấn đề quy định của pháp luật về Cưỡng đoạt tài sản.

Cơ sở pháp lý

Cưỡng đoạt tài sản là gì?

Cưỡng đoạt tài sản được quy định là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.

Cũng giống với các hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi cưỡng đoạt tài sản cũng xâm hại đồng thời vả về nhân thân và sở hữu. Có thể nói cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội. Như vậy, hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.

Cưỡng đoạt tài sản là gì? Quy định của pháp luật về Cưỡng đoạt tài sản
Cưỡng đoạt tài sản là gì? Quy định của pháp luật về Cưỡng đoạt tài sản

Cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản?

Để hành vi cưỡng đoạt tài sản cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Hành vi đó phải chứa những dấu hiệu sau:

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm

Hành vi phạm tội của tội cưỡng đoạt tài sản được quy định có thể là:

  • Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực: Là hành vi (dùng lời nói hoặc hành động) làm cho người bị đe dọa sợ nếu không giao tài sản ra thì sẽ bị đánh đập, đau đớn về thể xác.
  • Hành vi uy hiếp hoặc hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác: Thủ đoạn uy hiếp tinh thần là những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng ngoài việc đe dọa sẽ dùng vu lực và thủ đoạn này đã uy hiếp tinh thần của người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản. Có thể là những thủ đoạn như: dọa tố cáo về việc làm sai trái, phạm tội của người có tài sản, đe dọa hủy tài sản của người bị đe dọa…

Những kiểu đe dọa trên có thể có thức, có thể không có thực hoặc chỉ có thực một phần. Điều luật không giới hạn những thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần trong loại tội này. Bất cứ thủ đoạn uy hiếp nào, khống chế được ý chí của người bị hại đều được coi là thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần.

Người bị đe dọa ở đây có thể là chủ tài sản hoặc là người có trách nhiệm với tài sản đó.

Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm

Thể hiện ở lỗi cố ý của người phạm tội. Với mục đích là chiếm đoạt tài sản, họ đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản. Nếu không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì các hành vi này không phải là hành vi cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản.

Dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Tội cưỡng đoạt tài sản sẽ xâm phạm cùng lúc hai khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Tuy nhiên chủ yếu sẽ là xâm phạm đến quan hệ tài sản. Tính chất và mức độ xâm hại về nhân thân ít nghiêm trọng hơn với Tội cướp tài sản hoặc Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi thiệt hại nhân thân ở đây thường là thiệt hại về tinh thần. Tuy có ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng không gây ra thươnh tích cho người bị hại.

Quy định của pháp luật về Tội cưỡng đoạt tài sản

Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 về các khung hình phạt. Bao gồm có 4 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Có thể thấy khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Khung hình phạt tăng nặng thứ hai mức phạt tù từ 07 năm đến 15. Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là phạt tiền hoặc tích thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn miến phí. Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580. 

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề hình sự dưới đây:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.