Đã ly hôn thì có thể thể tái hôn lại hay không?

Chào luật sư, Tôi là Quốc Cường, 31 tuổi hiện đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội. Cách đây 3 năm tôi và vợ tôi đã ly hôn do bất đồng quan điểm sống và tôi đã đi thêm bước nữa. Tuy nhiên tôi và người vợ thứ 2 cũng không hợp nhau và đã kết thúc trong vòng 1 năm. Sau thời gian dài xa cách, tôi và người vợ đầu tiên đã cùng suy nghĩ lại và cảm thấy cần quay lại với nhau. Vì vậy tôi xin hỏi trong trường hợp này chúng tôi có thể tái hôn lại với nhau được không? Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!
Anh Cường – 31 tuổi – Hai Bà Trưng

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Tuệ An. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo những ý chính sau:

  1. Căn cứ pháp lý
  2. Điều kiện để tái hôn theo pháp luật hiện hành
  3. Trường hợp không thể tái hôn theo quy định pháp luật
Tổng đài tư vấn Hôn nhân và gia đình – 1900 4580 – Phím số 3

1. Căn cứ pháp lý

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Điều kiện để tái hôn theo pháp luật hiện hành

Tái hôn là một thuật ngữ mặc dù được sử dụng rất nhiều trong đời sống hằng ngày tuy nhiên lại chưa có một điều luật nào quy định cụ thể nào về vấn đề này. Mặc dù vậy có thể hiểu, tái hôn là việc cặp vợ chồng sau khi hoàn tất thủ tục ly hôn thì muốn quay lại với nhau, xác lập lại quan hệ hôn nhân.

Căn cứ tại Khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn”

Theo đó, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện; việc kết hôn mà không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý. Đối với trường hợp vợ chồng bạn đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn. 

Vì vậy, nếu bạn và vợ đã ly hôn, mà sau đó có về chung sống với nhau mà chưa đăng ký; hoặc không đăng ký kết hôn lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không được pháp luật thừa nhận là vợ; chồng (không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng).

Nếu hai bạn quyết định đăng ký kết hôn lại thì quan hệ hôn nhân của hai bạn chỉ được tính từ thời điểm đăng ký kết hôn chứ không tính từ ngày hai bạn về chung sống.

Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

3. Trường hợp không thể tái hôn theo quy định pháp luật

Trường hợp người vợ thứ 2 của bạn bỏ đi mà chưa ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền thì quan hệ hôn nhân vẫn còn; vẫn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Do đó, nếu như bạn có hành vi chung sống như vợ chồng với người vợ cũ thì tùy theo tính chất và mức độ của hành vi này mà bạn của bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo căn cứ sau:

Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2014/NĐ-CP quy định: 

“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ

Như vậy nếu một trong hai bạn, trước khi quay về sống chung với nhau mà đang có vợ; chồng thì hành vi chung sống như vợ; chồng của hai bạn là một trong những hành vi bị cấm tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Hành vi đó có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn nếu bạn và người vợ thứ 2 đã giải quyết xong thủ tục ly hôn và có bản án/quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mà bạn và vợ cũ vẫn chưa có vợ; chồng thì việc chung sống trở lại của bạn mà có kết hôn hay không là không vi phạm pháp luật. 

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc; chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình . – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580 . – phím số 3

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề hôn nhân gia đình tại đây:

  Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580
LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Add Comment