Giải quyết ra sao khi người bị tuyên bố mất tích trở về

Pháp luật đã quy định rõ ràng về nhân thân và tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích sau khi có quyết định của Tòa án. Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp người bị tuyên bố mất tích trở về. Đối với những trường hợp này, vấn đề nhân thân và tài sản được giải quyết như thế nào? Luật Tuệ An sẽ tư vấn cho bạn đọc qua nội dung sau.

Tổng đài tư vấn luật 24/7– “VỮNG NIỀM TIN- TRỌN CHỮ TÍN” 1900 4580

Căn cứ theo quy định của pháp luật, Luật Tuệ An xin tư vấn với những nội dung sau:

  1. Khi nào có thể yêu cầu tuyên bố một người là đã mất tích
  2. Hậu quả pháp lý khi một người bị tuyên mất tích
  3. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
  4. Hậu quả pháp lý khi hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật dân sự 2015
  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015

1. Khi nào có thể yêu cầu tuyên bố một người là mất tích

Căn cứ khoản 1 Điều 68 BLDS 2015 quy định:

Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Theo đó, Toà án có thể tuyên bố một người mất tích khi có các điều kiện sau:

– Biệt tích đã 02 năm liền trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

– Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người này còn sống hay đã chết

Theo đó, người có yêu cầu phải chứng minh được rằng trước khi gửi đơn yêu cầu đã sử dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu theo quy định của pháp luật. Những biện pháp đó có thể là thông báo tìm kiếm trên các phương tiện truyền thông địa phương, báo đài, vô tuyến,… hoặc yêu cầu Tòa án thông báo, tìm kiếm bằng những văn bản có hiệu lực pháp lý. Việc thực hiện tìm kiếm được trong thời hạn luật định và không có tin tức gì về người đó còn sống hay đã chết.

– Có yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến người bị yêu cầu tuyên bố mất tích

Về bản chất, thủ tục tuyên bố một người mất tích là việc dân sự, chỉ giải quyết khi có yêu cầu của người có yêu cầu, Tòa án không thể chủ động thực hiện. Do đó về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích đó là người có quyền, lợi ích liên quan, là những người có mối liên hệ (theo quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự hoặc các quan hệ khác) mà quyền lợi của họ bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của chủ thể bị yêu cầu. Theo nguyên tắc, người nào có quyền về tài sản liên quan đến người biệt tích sẽ bị thiệt hại nếu không tuyên bố người đó mất tích thì họ có quyền yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích.

2. Hậu quả pháp lý khi một người bị tuyên mất tích

Về tư cách chủ thể: Người biệt tích 02 năm liền trở lên, không có một tin tức nào cho thấy người đó còn sống hay đã chết. Nên khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích bị dừng lại.

Về quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố mất tích cũng tạm dừng. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn (Căn cứ khoản 2 Điều 68 BLDS 2015). 

Về quan hệ tài sản:

Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của BLDS 2015 tiếp tục quản lý tài sản của người bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

Tổng đài tư vấn luật 24/7– “VỮNG NIỀM TIN- TRỌN CHỮ TÍN” 1900 4580

3. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Căn cứ khoản 1 Điều 390 BLTTDS 2015 quy định:

Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo đó, sau khi có quyết định của Tòa án tuyên một người mất tích mà người đó trở về thì chính bản thân người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích.

Hồ sơ yêu cầu như sau:
  • Giấy tờ chứng minh nhân thân của người yêu cầu (chứng minh nhân dân/căn cước công dân,…)
  • Đơn yêu cầu Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích (mẫu đơn có thể tham khảo tại đây);
  •  Các giấy tờ chứng minh, tài liệu xác thực người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích vẫn còn sống (giấy tờ xác thực người yêu cầu hủy chính là người đã bị Tòa án tuyên bố mất tích);
  • Tài liệu xác thực người có quyền, lợi ích liên quan đối với trường hợp người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu hủy (Giấy khai sinh, hộ khẩu…).

4. Hậu quả pháp lý khi hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Về tư cách chủ thể: Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích bị dừng lại. Tuy nhiên khi Tòa án ra quyết định Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, tư cách chủ thể của người này được khôi phục.

Về quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhân thân cũng được khôi phục. Tuy nhiên trong trường hợp Tòa án đã giải quyết ly hôn đơn phương cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích, thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.

Về quan hệ tài sản: Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người đang quản lý tài sản chuyển giao. Tuy nhiên nhận lại sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.

Về hộ tịch: Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người đó để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An . Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay; Luật sư tư vấn đất đai ; – Luật Tuệ An uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề dân sự dưới đây:

LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.