Hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự? quy định mới nhất năm 2022

Nhiều thắc mắc được gửi vào hòm thư Luật Tuệ An để yêu cầu giải đáp thắc mắc về hành vi hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự hay không? Vậy qua bài viết sau đây chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc trên cho bạn đọc:

Cơ sở pháp lý

Khai niệm hiếp dâm là gì?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015, hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

Trong đó, theo giải thích tại Điều 3 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP, giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ, với bất kỳ mức độ xâm nhập nào.Giao cấu với người dưới 10 tuổi được xác định là đã thực hiện không phụ thuộc vào việc đã xâm nhập hay chưa xâm nhập.

Còn quan hệ tình dục khác là hành vi của những người cùng giới tính hay khác giới tính sử dụng bộ phận sinh dục nam, bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, miệng, hậu môn của người khác với bất kỳ mức độ xâm nhập nào, bao gồm một trong các hành vi:

  • Đưa bộ phận sinh dục nam xâm nhập vào miệng, hậu môn của người khác;
  • Dùng bộ phận khác trên cơ thể (ví dụ: ngón tay, ngón chân, lưỡi…), dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác.

Như vậy, đối với tội hiếp dâm, nếu giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác bằng cách dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân thì được coi là tội phạm hoàn thành.

Mức phạt của hành vi hiếp dâm

Theo Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về mức phạt cơ bản của tội hiếp dâm là phạt tù từ 02 – 07 năm, trường hợp tăng nặng có thể thể phạt tù lên đến 20 năm, tù chung thân hoặc thậm chí là tử hình . Cụ thể như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • Có tổ chức;
  • Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
  • Nhiều người hiếp một người;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Có tính chất loạn luân;
  • Làm nạn nhân có thai;
  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
  • Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự? quy định mới nhất năm 2022
Hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự? quy định mới nhất năm 2022

Hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự không?

Hiếp dâm không thành được hiểu là trường hợp phạm tội chưa đạt của Tội hiếp dâm. Cụ thể, trong Điều 15 của Bộ luật Hình sự có quy định:

  • Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm tuy nhiên không thực hiện được đến cùng vì các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
  • Đối tượng phạm tội chưa đạt cần phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Theo quy định trên có thể hiểu rằng, việc hiếp dâm không thành là việc 1 người có hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể nào tự vệ được của nạn nhân tuy nhiên chưa thực hiện được mục đích cuối cùng là giao cấu hay quan hệ tình dục khác do những nguyên nhân ngoài ý muốn.

Đối với những hành vi hiếp dâm không thành, những đối tượng thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm. Căn cứ theo Điều 57 Bộ luật Hình sự có quy định như sau:

1. Đối với các hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt sẽ được quyết định theo các điều tại Bộ luật này về những tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và các tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt sẽ được quy định trong các điều luật cụ thể.

3. Đối với các trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu như điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc án tử hình thì áp dụng hình phạt tù không vượt quá 20 năm; trong trường hợp là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định.

Dựa theo quy định trên và quy định về Tội hiếp dâm tại Điều 141, đối tượng thực hiện hành vi hiếp dâm không thành sẽ bị áp dụng theo mức phạt không quá ¾ mức phạt tù theo quy định, nếu như thuộc trường hợp tăng nặng thì mức phạt tù áp dụng không vượt quá 20 năm.

Tự ý dừng hành vi hiếp dâm có có bị coi là phạm tội hay không?

Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội sẽ được quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là việc tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy nhiên không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; trong trường hợp hành vi thực tế đã thực hiện có đủ các yếu tố cấu thành của 1 tội khác, đối tượng đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Hành vi được thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cần phải có đầy đủ những điều kiện khách quan và chủ quan. Khi có đủ điều kiện đó người thực hiện hành vi phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm bởi họ đã từ bỏ hẳn ý định phạm tội khi họ không có bất cứ sự ngăn cản nào. Điều này chứng tỏ họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên khi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, đối tượng chấm dứt chỉ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Trong trường hợp hành vi thực tế của họ ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành đã có đủ dấu hiệu cả những yếu tố cấu thành tội phạm khác thì họ cần phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó, họ chỉ được phép miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm chứ không được miễn trách nhiệm hình sự về tội phạm khác mà họ đã phạm tại giai đoạn chuẩn bị hay giai đoạn chưa đạt, chưa hoàn thành.

Nhưng tùy vào từng việc người này đang thực hiện có thể bị truy tố với tội danh làm nhục người khác được quy định cụ thể tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 30.000.000 đồng hay phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

2. Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, thì sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm:

  • Phạm tội 2 lần trở lên;
  • Đối với 2 người trở lên;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Đối với người đang thi hành công vụ;
  • Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
  • Sử dụng mạng máy tính hay mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù kể từ 2 – 5 năm:

  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
  • Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm các chức vụ, cấm hành nghề hay làm công việc nhất định từ 1 – 5 năm.

  • Tội làm nhục người khác hiện nay được quy định trong điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017)
  • Tội làm nhục người khác sẽ được quy định là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về: Hiếp dâm không thành có bị xử lý hình sự? quy định mới nhất năm 2022. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hồ trợ pháp lý khác; vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn miễn phí. Luật sư chuyên nghiệp, tư vấn miễn phí – 1900.4580.

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580. 

Một số bài viết có liên quan:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.