Khi nào công ty được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Khi nào công ty được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Trong thời kì dịch bệnh covid-19, nhiều công ty để giảm gánh nặng về tài chính đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vậy hành động này của công ty có trái pháp luật hay không. Để giải đáp thắc mắc trên, Luật Tuệ An sẽ khái quát cho các bạn về vấn đề “Khi nào công ty được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật lao động năm 2019

Đơn phương chấm dứt hợp đồng là gì?

Căn cứ khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”.

Từ khái niệm về hợp đồng lao động, ta có hiểu đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan hệ lao động động mà không cần sự thỏa thuận hay đồng ý của bên còn lại.

Khi nào công ty được đơn phương chấm dứt HĐLĐ?
Khi nào công ty được đơn phương chấm dứt HĐLĐ?

Các trường hợp công ty được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Căn cứ khoản 1 Điều 36, Công ty  có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.  

Trong đó, công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế này  do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. 

Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị liên tục theo khoảng thời gian nhất định

Cụ thể, người lao động đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

Do sự kiện bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục

Sự kiện bất khả kháng nêu trên bao gồm: thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.

Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31.

Theo Điều 31: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”. Như vậy, thời gian quy định ở đây là 15 ngày kể từ ngày hết hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

  • . Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
  •  Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  •  Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên

Những trường hợp được xem là có lý do chính đáng bao gồm: Thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Người lao động cung cấp không trung thực thông tin làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng của người lao động

Những thông tin này được quy định tại khoản 2 Điều 16. Cụ thể: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Nếu người lao động gian dối những thông tin trên làm ảnh hưởng tới tuyển dụng, người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Những lưu ý khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động nếu thuộc các trường hợp được quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều 36. Cụ thể:

  •  Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  •  Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
  • Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
  •  Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Các trường hợp còn lại công ty không cần báo trước cho người lao động mà có thể trực tiếp chấm dứt hợp đồng

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về vấn đề “Có được ký nhiều lần hợp đồng lao động có thời hạn không?”. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngayLuật sư tư vấn bảo hiểm xã hội Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 0966.866.650.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác tại đây:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Add Comment

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.