Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ thừa kế của cá nhân.

Nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc đầu tiên trong quan hệ dân sự; và thể hiện rõ nét bản chất của quan hệ dân sự. Đặc biệt đối với quan hệ thừa kế; nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc cơ sở cho việc xác định những người trong cùng một hàng được hưởng di sản ngang nhau. Ngoài ra, nó còn là cơ sở để rũ bỏ nhiều tư tưởng lạc hậu từ thời kỳ phong kiến, như: tư tưởng trọng nam khinh nữ; sự bất bình đẳng giữa nam và nữ; giữa vợ và chồng trong chế định thừa kế. Nguyên tắc bình đẳng thể hiện quyền thừa kế như nhau của cá nhân và pháp nhân.

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Nhận thấy những vướng mắc chung của nhiều người dân; Luật Tuệ An xin cung cấp bạn đọc những thông tin về vấn đề trên như sau:

  1. Quyền thừa kế là gì?
  2. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân.
  3. Nguyên tắc bình đẳng trong chế định thừa kế.

Cơ sở pháp lý:

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

1. Quyền thừa kế là gì?

Quyền thừa kế được pháp luật quy định rất rõ tại Điều 609 của Bộ luật dân sự 2015.

Điều 609. Quyền thừa kế

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”

Cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết. Việc lập di chúc phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc. Trường hợp cá nhân không lập di chúc; thì sẽ để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định trình tự; thủ tục chuyển dịch di sản của người để lại thừa kế cho những người thừa kế.

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản; trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản.

Thừa kế theo pháp luật phát sinh dựa trên một trong các quan hệ sau: hôn nhân; huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Thừa kế theo di chúc phát sinh theo ý chí chủ quan của người lập di chúc mà không có điều kiện bắt buộc. Người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ chủ thể nào; vì vậy, nếu di chúc chỉ định pháp nhân thì pháp nhân đó là người thừa kế theo di chúc .

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

2. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân.

Theo Điều 610 của BLDS 2015 quy định về quyền bình đẳng của các cá nhân trong thừa kế như sau:

Điều 610. Quyền bình đằng về thừa kế của cá nhân.

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác; và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

Quyền thừa kế là quyền tài sản quan trọng của cá nhân được pháp luật bảo hộ. Mọi cá nhân có quyền bình đẳng trong việc để lại di sản cho người khác hưởng; nhận hoặc từ chối nhận di sản và thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt; để bảo vệ quyền lợi của những người thân thích trong gia đình; pháp luật quy định hạn chế quyền định đoạt của người lập di chúc; và tước quyền nhận di sản của người thừa kế.

Quyền để lại tài sản của mình cho người khác:

Xuất phát từ nguyên tắc của luật dân sự là tự do, tự nguyện. Pháp luật cho phép cá nhân có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho cá nhân; tổ chức hưởng. Nội dung di chúc do người lập di chúc xác định như chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế mà không cần nêu lý do; dành một phần di sản để di tặng hoặc làm di sản thờ cúng; chỉ định người quản lý di sản; người phân chia di sản …

Lập di chúc là quyền tự do của cá nhân; nhưng khi thực hiện quyền đó cần phải bảo đảm lợi ích của những người thân thích trong gia đình; như bố, mẹ, vợ (hoặc chồng), các con chưa thành niên; hoặc con không có khả năng lao động. Những người này có quan hệ hôn nhân; huyết thống với người lập di chúc; giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thích; và quan hệ pháp lý như chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau. Theo đó, dù người lập di chúc không chỉ định cho những đối tượng này hưởng một phần di sản; thì pháp luật vẫn đảm bảo quyền hưởng di sản của họ đó là cho phép họ hưởng bằng hai phần ba (2/3) của một suất thừa kế theo pháp luật (Điều 644 BLDS).

Quyền bình đẳng trong việc nhận tài sản thừa kế:

Cá nhân có quyền bình đẳng trong việc nhận di sản; và thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại. Không phân biệt nam, nữ, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tôn giáo. Mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc, theo pháp luật. Người hưởng di sản phải thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng. Như vậy, pháp luật quy định tất cả những người thừa kế được hưởng quyền thì phải thực hiện nghĩa vụ. Đây là nguyên tắc chung của pháp luật; thể hiện quyền của công dân bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ.

Tuy nhiên, quyền nhận di sản của cá nhân cũng có thể bị pháp luật tước trong những trường hợp người được thừa kế theo di chúc; hoặc thừa kế theo pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng; xâm phạm đến tính mạng; sức khoẻ hoặc nhân thân của người để lại thừa kế hoặc người thừa kế khác. Trường hợp này bị coi là người “bất xứng” hưởng di sản.

3. Nguyên tắc bình đẳng trong chế định thừa kế.

Người để lại di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân; do đó sự bình đẳng ở đây thể hiện ở các khía cạnh sau:

Trong quan hệ vợ chồng:

Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc để lại di sản thừa kế. Trước đây, pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ; nên người phụ nữ bị tước đi tư cách chủ thể khi đã lấy chồng. Chẳng hạn trong trường hợp người chồng chết trước mà người vợ tái giá; thì phải để lại cho con tài sản chung của vợ chồng; phải trả lại cho gia đình bên chồng toàn bộ tài sản riêng của người chồng; người vợ chỉ được mang theo những gì thuộc tài sản của riêng mình. (Điều 360 Bộ Dân luật Bắc kỳ).

Tuy nhiên, trong Bộ luật Hồng Đức cũng có những quy định hết sức tiến bộ. Theo Điều 374 và 375 khi người chồng chết; người vợ vẫn được giữ nguyên quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mình; còn tài sản ruộng đất của hai vợ chồng tạo lập được chia làm hai phần bằng nhau; theo đó vợ sẽ được hưởng một phần. Với quy định hiện nay; chúng ta đã không có sự phân biệt giữa nam và nữ trong việc định đoạt tài sản chung như lập di chúc; truất quyền thừa kế của người thừa kế,…

Trong quan hệ cha mẹ với con cái:

Cha, mẹ có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản thừa kế của con; cũng không có sự phân biệt nào hết. Thậm chí, con riêng của vợ; hoặc chồng đối với cha dượng mẹ kế; cũng sẽ được hưởng di sản của nhau; và ở hàng thừa kế thứ nhất nếu chứng minh được có chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. (Điều 654 BLDS 2015)

Các con không có sự phân biệt con trong giá thú hay con ngoài giá thú; không phân biệt con gái hay con trai đều có quyền hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ.

Trong quan hệ với những người thân thích khác:

 Những người thân thích khác của người chết được hưởng di sản của người đó một cách ngang nhau; nếu họ cùng một hàng thừa kế. Chẳng hạn, ông bà có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của cháu mà không phân biệt ông hay bà; ông bà nội hay ngoại; các cháu không phân biệt cháu nội hay ngoại; cháu trai hay gái luôn có quyền ngang nhau khi hưởng thừa kế; anh, chị, em ruột có quyền ngang nhau khi hưởng di sản mà không phân biệt anh trai, chị gái, em trai, em gái;… cũng như không phân biệt cô, dì, chú, bác, cậu ruột khi hưởng di sản,… (Điều 651 BLDS 2015)

Như vậy:

Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế là nguyên tắc cơ sở cho việc xác định những người trong cùng một hàng được hưởng di sản ngang nhau. Ngoài ra; nó còn là cơ sở để rũ bỏ nhiều tư tưởng lạc hậu từ thời kỳ phong kiến; như tư tưởng trọng nam khinh nữ; sự bất bình đẳng giữa nam và nữ; giữa vợ và chồng trong chế định thừa kế. Thông qua nguyên tắc này; các chủ thể khi tham gia vào quan hệ thừa kế có thể đảm bảo tốt nhất cho quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn đất đai – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề dân sự dưới đây:

LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.