Nhận ủy quyền bán BĐS có phải nộp thuế TNCN

Xin chào Luật sư. Bạn tôi có một căn hộ chung cư cần bán. Nhưng bạn tôi vẫn còn kẹt ở nước ngoài do dịch Covid-19. Chính vì vậy nên bạn tôi nhận ủy quyền bán hộ bạn căn nhà đó (tôi chỉ bán giúp, không nhận khoản lợi ích nào). Tuy nhiên, khi tiến hành kê khai nộp thuế TNCN tại cơ quan thuế, bạn tôi được miễn do căn nhà là bất động sản duy nhất, còn tôi thì lại không. Xin hỏi Luật sư, cơ quan thuế làm vậy có đúng không ạ? Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi từ anh Phạm Quốc Nam – Đồng Nai

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Chào anh. Cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Tuệ An.

Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, Luật Tuệ An chúng tôi sẽ tư vấn theo các ý chính sau:

  • Căn tính thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS;
  • Nhận ủy quyền bán hộ BĐS có phải nộp thuế TNCN không?

Cụ thể như sau:

1. Khái niệm thuế TNCN. Đối tượng chịu thuế TNCN.

Thuế TNCN là sắc thuế đánh trực tiếp vào phần thu nhập vượt quá nhu cầu cơ bản, cần thiết của cá nhân và những người phụ thuộc (nếu có).

Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), các nguồn thu nhập sau đây là đối tượng chịu thuế TNCN:

  • Thu nhập từ kinh doanh;
  • Thu nhập từ tiền lương, tiền công;
  • Thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;
  • Thu nhập từ bản quyền; nhượng quyền thương mại;
  • Thu nhập từ trúng thưởng; thừa kế; quà tặng.

Như vậy, chuyển nhượng bất động sản (BĐS) có thể làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN. Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này tại phần thứ 2 của bài viết.

2. Căn tính thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS.

2.1. Các trường hợp chuyển nhượng BĐS.
a. Thu nhập từ BĐS.
Nhận ủy quyền bán BĐS có phải nộp thuế TNCN
Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

Theo khoản 5 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung năm 2018), thu nhập từ BĐS bao gồm:

  • Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, kể cả tài sản hình thành trong tương lai, cây trồng, vật nuôi;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở, kể cả nhà ở hình thành trong tương lai;
  • Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;
  • Thu nhập khi góp vốn bằng BĐS để thành lập doanh nghiệp hoặc tăng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
  • Thu nhập từ việc ủy quyền quản lý BĐS mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng BĐS hoặc có quyền như người sở hữu BĐS;
  • Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức.
b. Các trường hợp được miễn thuế TNCN khi chuyển nhượng BĐS.

– Thu nhập từ việc chuyển nhượng BĐS giữa những người có quan hệ hôn nhân, gia đình sau:

  • Vợ – chồng;
  • Cha đẻ, mẹ đẻ – con đẻ;
  • Cha nuôi, mẹ nuôi – con nuôi;
  • Cha chồng, mẹ chồng – con dâu;
  • Cha vợ, mẹ vợ – con rể;
  • Ông nội, bà nội – cháu nội,
  • Ông ngoại, bà ngoại – cháu ngoại;
  • Anh chị em ruột với nhau.

– BĐS chuyển nhượng là quyền sử dụng đất ở, nhà ở duy nhất tại Việt Nam của người chuyển nhượng.

2.2. Căn cứ tính thuế TNCN.

Căn cứ tính thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS là giá chuyển nhượng từng lần và thuế suất.

a. Giá chuyển nhượng từng lần.

Giá chuyển nhượng từng lần là giá trị chuyển nhượng BĐS từng lần ghi trong hợp đồng chuyển nhượng.

Nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ấn định giá cụ thể cho BĐS thì giá trị chuyển nhượng trong hợp đồng không được thấp hơn mức giá cụ thể đó.

b. Thuế suất.

Thuế suất đối với thu nhập từ bất động sản là 2% giá chuyển nhượng từng lần.

c. Phương pháp tính thuế.

Thuế TNCN đối với thu nhập từ BĐS được xác định bằng cách lấy giá chuyển nhượng từng lần nhân với thuế suất 2%.

Thuế TNCN=Giá chuyển nhượng từng lầnX2%

3. Xác định thuế TNCN đối với nhận ủy quyền bán hộ BĐS.

Nhận ủy quyền bán BĐS có phải nộp thuế TNCN
Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

Dựa vào câu hỏi của anh, chúng tôi xin xác nhận lại thông tin như sau:

Căn hộ chung cư là BĐS duy nhất của bạn anh. Bạn anh ủy quyền cho anh bán hộ căn chung cư đấy. Sau khi bán xong, cơ quan thuế ra quyết định thu thuế TNCN đối với anh và không thu thuế TNCN đối với bạn anh.

Luật Tuệ An nhận xét về hai quyết định của cơ quan thuế như sau:

a. Đối với quyết định không thu thuế đối với bạn anh.

Như đã nói ở phần trước, người có BĐS là quyền sử dụng đất ở, nhà ở duy nhất tại Việt Nam sẽ được miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS (theo điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC). Do đó, quyết định này là hoàn toàn hợp pháp.

b. Đối với quyết định thu thuế cho hoạt động ủy quyền bán BĐS.

Đầu tiên, cần phải hiểu về bản chất của việc ủy quyền. Theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng ủy quyền là thỏa thuận giữa các bên mà trong đó, ben nhận ủy quyền nhân danh bên ủy quyền để thực hiện công việc thay cho bên ủy quyền. Việc ủy quyền chỉ có thù lao khi các bên có thỏa thuận với nhau.

Như vậy, việc bạn anh ủy quyền cho anh không làm thay đổi quyền sở hữu BĐS cũng như thu nhập từ chuyển nhượng BĐS. Nói cách khác, anh không phải là chủ sở hữu căn chung cư, anh không nhận được bất cứ khoản tiền nào từ việc bán nhà. Do đó, anh không thể là đối tượng phải nộp thuế TNCN.

Theo quy định tại điểm e khoản 5 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC hiện hành, thu nhập từ việc ủy quyền quản lý BĐS mà người được ủy quyền có quyền như người sở hữu BĐS (bao gồm cả quyền chuyển nhượng) là đối tượng chịu thuế. Nhiều người hiểm nhầm quy định này là bên nhận ủy quyền luôn phải nộp thuế TNCN đối với mọi việc ủy quyền quản lý BĐS. Tuy nhiên, thuế TNCN là sắc thuế đánh vào thu nhập, do đó, bên nhận ủy quyền phải có thu nhập chịu thuế thì mới phải nộp thuế.

Như đã nói ở trên, thu nhập từ việc chuyển nhượng BĐS thuộc về chủ sở hữu, chứ không thuộc về bên nhận ủy quyền. Do vậy, thu nhập từ việc ủy quyền quản lý BĐS rơi vào trường hợp ủy quyền có thù lao. Tuy nhiên, anh nói rằng anh không nhận thù lao mà chỉ bán giúp không công cho bạn anh. Chính vì lý do này, anh không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 5 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC hiện hành, đồng nghĩa với việc không phải nộp thuế TNCN.

Tóm lại, quyết định của cơ quan thuế về việc thu thuế TNCN đối với nhận ủy quyền bán BĐS là không có cơ sở. Anh có thể thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện hành chính để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn doanh nghiệp – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580 và bấm phím số 5.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về những vấn đề liên quan khác:

   Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580
LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.