Như thế nào là tội cho vay nặng lãi ?

Hiện nay rất nhiều người vì lợi dụng tình cảnh khó khăn, quẫn bách của người khác để cho họ vay tiền với lãi suất cao hơn mức tối đa Nhà nước cho phép, khiến họ trở thành con nợ với số tiền lãi suất hết sức khổng lồ. Vậy hành vi cho vay nặng lãi như thế nào thì phải chịu trách nhiệm hình sự và mức hình phạt với tội này là bao nhiêu, hãy cùng Luật Tuệ An tìm hiểu vấn đề này.

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Với vấn đề này, chúng tôi sẽ tìm hiểu dưới các góc độ như sau:

  • Cơ sở pháp lý.
  • Các yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
  • Trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay nặng lãi.

1. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự 2015
  • Bộ luật dân sự 2015

2. Các yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

Như thế nào là tội cho vay nặng lãi ?
Tổng đài tư vấn hình sự 1900.4580

Căn cứ vào Điều 201 BLHS 2015, tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được quy định như sau: “ Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay nặng lãi với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về  hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm…”

Như vậy, tội cho vay nặng lãi được quy định như trên và để hiểu rõ về tội này, chúng tôi sẽ phân tích dựa trên 4 yếu tố sau:

Về mặt khách quan.

Hành vi khách quan.

Thứ nhất là hành vi cho người khác vay với mức lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự.

Mức lãi suất cao nhất được BLDS quy định như sau: “ Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác. Căn cứ vào tình hình thực tế và theo đề xuất của chính phủ, Ủy ban thường vụ quốc hội quyết định điều chỉnh lãi suất,….”

BLDS quy định lãi suất tối đa là 20%/năm, gấp 5 lần là 100%/năm. Như vậy, những giao dịch có lãi suất từ 20%/năm đến dưới 100%/năm là giao dịch bất hợp pháp nhưng chưa đến mức bị xử lý về hình sự mà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Chỉ có giao dịch với lãi suất từ 100%/năm trở lên mới thuộc đối tượng của tội này.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 468 BLDS quy định trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác và căn cứ vào tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính Phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất tối đa. Như vậy, mức lãi suất tối đa còn bị ràng buộc mới quy định pháp luật khác hoặc do Quốc hội điều chỉnh lại theo đề nghị Chính phủ.

Thứ hai, hành vi thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 30.000.000 nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 201 BLHS. Khoản thu này phải từ các giao dịch dân sự cho vay với mức lãi suất từ 100%/năm. Khoản tiền này cũng phải được người cho vay thực thu từ người đi vay, chứ không phải là tính đơn thuần trên hợp đồng hoặc thỏa thuận.

Hậu quả.

Hậu quả của hành vi cho vay nặng lãi là những thiệt hại về vật chất, phi vạt chất cho xã hội như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội.

Hậu quả trực tiếp là gây thiệt hại cho người vay, làm cho người vay chịu mức lãi  quá cao. Đối với tội cho vay nặng lãi thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

Số lượng tiền, tài sản cho vay nhiều hay ít không phải là yếu tố cấu thành tội này.

Đối tượng cho vay có thể là tiền, vật, giấy tờ có giá….

Về mặt chủ quan

Tội này được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi cho vay nặng lãi là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì muốn kiếm lợi nhuận cao lại dễ dàng nên vẫn cố tình thực hiện tội phạm.

Động cơ phạm tội là nhằm thu lợi bất chính.

Về mặt chủ thể.

Chủ thể của tội cho vay nặng lãi là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Nếu người phạm tội lợi dụng, chức vụ quyền hạn trong quản lý công quỹ và dùng công quỹ cho vay nặng lãi thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này với tình tiết tăng nặng.

Về mặt khách thể.

Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh daonh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân.

3. Trách nhiệm hình sự đối với tội này

Như thế nào là tội cho vay nặng lãi ?
Tổng đâì tư vấn hình sự 1900.4580

Căn cứ vào Điều 201 BLHS 2015, tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự có hai mức hình phạt chính sau:

Mức 1

Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Cho vay nặng lãi với múc lãi suất gấp 5 lần so với mức tối đa và thu lợi bất chính từ 30 triệu trở lên
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội này hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích.

Mức 2

Phạt tiền từ 200 triệu đến 1 tỉ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu hành vi cho vay nặng lãi thu lợi bất chính từ 100 triệu trở lên

Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng các hình phạt chính, người phạm tội này có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung sau:

  • Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu chưa áp dụng hình thức này là hình thức phạt chính.
  • Cấm đảm nhiệm chức vụ , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần
hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn hình sự – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900-4580
Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề hình sự:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là banner-chung-01-2-6.jpg
LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Add Comment