Những trường hợp không được ủy quyền

Ủy quyền là vấn đề xảy ra khá thường xuyên trong đời sống xã hội. Bởi lẽ, đôi khi vì những lí do nhất định, chủ thể có quyền và nghĩa vụ không thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Khi đó, quan hệ ủy quyền được đặt ra. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào các chủ thể cũng được phép ủy quyền thực hiện. Để làm rõ hơn về nội dung này, trong bài viết dưới đây, Luật Tuệ An xin chia sẻ tới Quý khách hàng “Những trường hợp không được ủy quyền” theo quy định pháp luật hiện hành.

Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Luật Hộ tịch năm 2014.
  • Luật Công chứng năm 2014.

Ủy quyền là gì? Ủy quyền được thực hiện dưới hình thức nào?

Thế nào là ủy quyền?

Pháp luật dân sự quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Như vậy, có thể hiểu, ủy quyền là việc cá nhân, pháp nhân này cho phép cá nhân, pháp nhân khác sử dụng quyền năng của mình để thực hiện một hành động pháp lý nào đó. Việc thực hiện quyền này nhằm hướng đến lợi ích của các bên hoặc lợi ích của chính người ủy quyền.

Ủy quyền chính là căn cứ phát sinh quan hệ đại diện giữa người đại diện (người được ủy quyền) và người được đại diện (người ủy quyền). Sau khi hoàn thành các nội dung trong phạm vi ủy quyền, đây cũng chính là căn cứ để người ủy quyền tiếp nhận kết quả từ hoạt động ủy quyền.

Những trường hợp không được ủy quyền
Ủy quyền không được thực hiện trong trường hợp nào?

Các hình thức ủy quyền

Về cơ bản, các bên có quyền tự do thỏa thuận về hình thức ủy quyền. Việc ủy quyền có thể xác lập dưới dạng văn bản, lời nói hoặc thậm chí là hành vi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật quy định việc ủy quyền buộc phải lập thành văn bản. Khi đó, các bên cần tuân theo hình thức ủy quyền do luật định.

Mặc dù pháp luật luôn đề cao sự thỏa thuận của các bên. Nhưng để đảm bảo nội dung ủy quyền được ghi nhận một cách đầy đủ, chính xác, đồng thời các bên có căn cứ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp khi có tranh chấp phát sinh. Trên thực tế, ủy quyền chủ yếu được lập thành văn bản. Văn bản này có thể tồn tại dưới tên gọi là giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền.

Các chủ thể trong quan hệ ủy quyền gồm những ai?

Để có thể tham gia vào quan hệ ủy quyền, trước hết, người nhận ủy quyền phải là chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo đó, trên cơ sở văn bản ủy quyền, người nhận ủy quyền sẽ đại diện cho người ủy quyền tiến hành các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền. Như vậy, có thể hiểu, trong quan hệ đại diện theo ủy quyền sẽ tồn tại song song hai mối quan hệ pháp lý.

Một là, quan hệ giữa người ủy quyền và người nhận ủy quyền. Theo đó, người nhận ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong phạm vi ủy quyền.

Hai là, quan hệ giữa người nhận ủy quyền và bên thứ ba. Với tư cách của người ủy quyền, người nhận ủy quyền sẽ tiến hành giao kết hoặc thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Trong mối quan hệ này, người nhận ủy quyền cũng sẽ có những quyền và nghĩa vụ nhất định với bên thứ ba.

Các trường hợp không được ủy quyền?

Mặc dù ủy quyền được xác lập trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp không được ủy quyền. Cụ thể, trong lĩnh vực dân sự và hôn nhân gia đình, quan hệ ủy quyền không được xác lập trong các trường hợp sau đây:

Trường hợp không được ủy quyền thứ nhất: Đăng ký kết hôn.

Đây là sự kiện quan trọng gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân và không được chuyển giao. Do đó, theo quy định, khi tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn, hai bên nam và nữ bắt buộc phải có mặt. Hay nói cách khác, các bên trong quan hệ hôn nhân không được phép ủy quyền cho chủ thể khác thay mặt mình đăng ký kết hôn. Quy định này cũng nhằm đảm bảo các bên tiến tới hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, cưỡng ép.

Trường hợp không được ủy quyền thứ hai: Ly hôn.

Tương tự như đăng ký kết hôn, ly hôn cũng là sự kiện gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân. Hiện nay theo quy định, đương sự có thể ủy quyền cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thay mặt thực hiện một số thủ tục tại Tòa án khi nộp đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, trong giai đoạn tố tụng, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Trường hợp không được ủy quyền thứ ba: Đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân. Do đó, đối với việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, pháp luật không cho phép các bên được ủy quyền. Cụ thể, người có yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con sẽ nộp cùng với tờ khai các chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con, các bên bắt buộc phải có mặt. Điều này có nghĩa cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ không giải quyết đăng ký vắng mặt hay có người đại diện.

Trường hợp không được ủy quyền thứ tư: Công chứng di chúc.

Di chúc là sự thể hiện ý chí của mỗi cá nhân. Do đó, khi có mong muốn công chứng di chúc, người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng. Hay nói cách khác, người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc. Điều này không chỉ đảm bảo nội dung di chúc được giữ kín mà còn đảm bảo người lập di chúc tại thời điểm di chúc được lập hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, sáng suốt. Sự thể hiện ý chí của người lập di chúc trong nội dung di chúc không có sự ảnh hưởng hay can thiệp của bất kì chủ thể nào khác.

Trường hợp không được ủy quyền thứ năm: Người được ủy quyền là đương sự có quyền, lợi ích đối lập trong cùng một vụ việc.

Trong cùng một vụ việc, thông thường, các bên trong quan hệ sẽ có quyền và lợi ích đối lập. Do đó, nếu người được ủy quyền cũng là đương sự trong cùng một vụ việc, đồng thời có quyền, lợi ích đối lập với người ủy quyền thì quan hệ ủy quyền này không được xác lập. Điều này nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích chính đáng cho người ủy quyền.

Trường hợp không được ủy quyền thứ sáu: Người được ủy quyền đang là đại diện cho một đương sự khác có quyền, lợi ích đối lập trong cùng một vụ việc.

Trong trường hợp này, nếu quan hệ ủy quyền được xác lập, người được ủy quyền sẽ cùng lúc là đại diện cho hai chủ thể có quyền, lợi ích đối lập nhau. Điều này dẫn đến người được ủy quyền sẽ không thể đảm bảo tối đa quyền lợi chính đáng cho cả hai bên. Đồng thời, việc thực hiện nội dung ủy quyền sẽ không mang tính khách quan, công bằng. Do đó, pháp luật xác định đây là trường hợp không được ủy quyền.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác về Dân sự tại đây:

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Mọi khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.