Phân biệt người giám hộ và người đại diện theo pháp luật

Không nhiều người phân biệt được giữa người giám hộ và người đại diện theo pháp luật. Nhiều người thường nghĩ rằng chỉ có pháp nhân (như công ty) mới có người đại diện theo pháp luật và chỉ người chưa thành niên mới có người giám hộ. Thực chất, việc phân biệt được người giám hộ và người đại diện theo pháp luật là rất quan trọng. Trong bài viết này, Luật Tuệ An sẽ tư vấn vấn đề “phân biệt người giám hộ và người đại diện theo pháp luật“.

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2015

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Người giám hộ là 1 kiểu người đại diện theo pháp luật

Dựa vào đối tượng được đại diện, thì có người đại diện theo pháp luật của cá nhân và người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trong đó, người đại diện theo pháp luật của cá nhân gồm người giám hộ, và người đại diện theo pháp luật của cá nhân khác. Nhưng người đại diện theo pháp luật của cá nhân chưa chắc đã là người giám hộ. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người được xác định theo điều lệ của pháp nhân đó (VD: các công ty có tư cách pháp nhân có điều lệ chỉ định người đại diện theo pháp luật của mình); người được Tòa án chỉ định trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án; hoặc người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật.

Dựa vào căn cứ xác lập, thì người giám hộ là người mà được luật quy định làm người giám hộ (còn gọi là người giám hộ đương nhiên) hoặc người do UBND cấp xã cử hoặc do Tòa án chỉ định làm giám hộ cho cá nhân khác. Trong khi đó, người đại diện theo pháp luật của cá nhân có thể là cha, mẹ đối với con chưa đủ 18 tuổi (tức họ có quan hệ huyết thống với nhau); người giám hộ đối với người được giám hộ hoặc cá nhân được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho:

  • Con chưa đủ 18 tuổi mà không xác định được cha và mẹ
  • Người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
  • Cá nhân đã có người giám hộ nhưng không xác định được người giám hộ ấy.

Người được giám hộ gồm:

  • Người chưa đủ 18 tuổi mà không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ.
  • Người đã đủ 18 tuổi còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc đều là người hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa đủ 18 tuổi.
  • Người đã đủ 18 tuổi còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ nhưng cả cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ.
  • Người mất năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người này (hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương) đều do người giám hộ thực hiện.
  • Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Nhiệm vụ khác nhau của người giám hộ và người đại diện theo pháp luật

Người giám hộ có nhiệm vụ là thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Khi chỉ định người giám hộ cho người có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án sẽ xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ này.

Còn người đại diện theo pháp luật có nhiệm vụ nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. Tùy vào đối tượng được đại diện và căn cứ xác lập người đại diện mà phạm vi công việc mà từng người đại diện theo pháp luật được nhân danh từng người được đại diện khi thực hiện là khác nhau.

Các điều kiện khác nhau trở thành người giám hộ và người đại diện theo pháp luật

Không có các quy định cụ thể nào xác định rõ ràng điều kiện để trở thành một người đại diện theo pháp luật là gì. Tùy vào tính chất công việc cần đại diện, đối tượng được đại diện, các quy định pháp luật khác nhau, điều lệ của từng pháp nhân mà các điều kiện để trở thành người đại diện theo pháp luật sẽ. Trong khi đó, điều kiện để trở thành người giám hộ được xác định rõ và chặt chẽ.

Đối với cá nhân, để trở thành người giám hộ phải:

  • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Tức là không phải người bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
  • Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác (từ điều 123 tới điều 156; và từ điều 168 tới điều 180 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa đủ 18 tuổi.

Đối với pháp nhân, để trở thành người giám hộ phải:

  • Nó khả năng được pháp luật quy định các quyền , nghĩa vụ phù hợp với việc giám hộ;
  • Nó điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám hộ

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về vấn đề “Phân biệt người giám hộ và người đại diện theo pháp luật”. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn dân sự – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 0966.866.650.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác về pháp luật dân sự tại đây:

Thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc giám hộ tại Cơ quan đại diện mới nhất

Thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo quy định pháp luật hiện hành

Thủ tục đăng ký thay đổi giám hộ tại UBND cấp huyện theo quy định pháp luật hiện hành

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Add Comment

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.