Phân biệt Tạm giữ và tạm giam

Tạm giữ và tạm giam là hai khái niệm được nhắc tới nhiều nhất trong số các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo, tạm hoãn xuất cảnh. Theo đó, tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp khác biệt nhau. Vậy hai biện pháp này khác nhau ở những điểm nào? Bài viết này, Luật Tuệ An xin cung cấp đến bạn đọc nội dung tư vấn về Phân biệt Tạm giữ và tạm giam

Căn cứ pháp lý

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS).

Điểm khác nhau giữa Tạm giữ và Tạm giam

Định nghĩa

Tạm giữ

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

Tạm giam

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn với bị can, bị cáo; tạm giữ áp dụng với người phạm tội quả tang, vi phạm hành chính…

Mục đích

Tạm giữ

  • Ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội. Tạo điều kiện cho cơ quan thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ.
  • Tạo thời gian cho cơ quan bắt hoặc nhận người bị bắt thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã biết về việc đã bắt được đối tượng truy nã. Và có thời gian cho cơ quan đến nhận ngươi bị bắt.
Phân biệt Tạm giữ và tạm giam
Phân biệt Tạm giữ và tạm giam

Tạm giam

Ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Đảm bảo thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng.

Đối tượng áp dụng

Tạm giữ

Theo khoản 1 Điều 117 BLTTHS, đối tượng của tạm giữ là:

Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.”

Tạm giam

Đối tượng áp dụng được quy định tại Điều 119 BLTTHS, theo đó: Áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng; nếu phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra.

Thẩm quyền ra quyết định

Tạm giữ

Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật tố tụng hình sự có quyền ra quyết định tạm giữ.

Tạm giam

Thẩm quyền được quy định tại khoản 5 Điều 119 BLTTHS:

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành…”

Thủ tục

Tạm giữ

Việc tạm giữ phải có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Tạm giam

Tạm giam phải có lệnh, quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền.

Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam nhằm xác định đúng đối tượng cần tạm giam. Đồng thời thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền địa phương nơi người bị tam giam cư trú, làm việc, học tập.

Thời hạn

Tạm giữ

Thời hạn tạm giữ được quy định tại Điều 118, theo đó:

  • Thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
  • Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá 3 ngày.
  • Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 3 ngày.

Tạm giam

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về: Phân biệt Tạm giữ và tạm giam? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hồ trợ pháp lý khác; vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn miễn phí. Luật sư chuyên nghiệp, tư vấn miễn phí – 1900.4580.

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580. 

Một số bài viết có liên quan:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.