Quy định của pháp luật về thừa kế đất đai cấp cho hộ gia đình

Chào Luật sư, gia đình tôi có 1 vấn đề cần tới sự giúp đỡ của Luật sư. Ông nội tôi có mảnh đất được nhà nước giao cho hộ gia đình. Trong hộ có ông nội, bố tôi, mẹ tôi, anh tôi và tôi. Ông tôi mất được khoảng 3 năm, thì 2 năm sau bố tôi mất; việc thừa kế đất đai chưa được chia. Sau đó, các bác tôi lấy mảnh đất đó để sử dụng. Hiện giờ mẹ tôi là chủ hộ, nếu nộp đơn ra tòa thì tôi có quyền thay mẹ tôi nộp đơn ra toàn hay không? Trong trường hợp của nhà tôi thì tôi phải xử lí như thế nào? Mong Luật sư giải đáp thắc mắc.

Câu hỏi của anh Dương – Hải Phòng

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Để giải đáp những vướng mắc trên của anh. Luật Tuệ An xin đưa ra những nội dung chính sau đây:

  1. Hiểu thế nào là đất hộ gia đình
  2. Việc lấy đất của bác anh có đúng không?
  3. Người có quyền yêu cầu khởi kiện

Cơ sở pháp lý:

  • Luật đất đai 2013
  • Bộ luật dân sự 2015
  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

1. Hiểu thế nào là đất hộ gia đình

Tại Khoản 1 Điều 212 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp; cùng nhau tạo lập nên; và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan

Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình lần đầu được ghi nhận trong BLDS. Nhà làm luật thừa nhận, giữa các thành viên trong gia đình có mối quan hệ huyết thống; hoặc nuôi dưỡng cũng có thể tồn tại khối tài sản chung với nhau. Do đó, nhà làm luật quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình.

Căn cứ Khoản 29 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định về hộ gia đình sử dụng đất như sau:

Điều 3: Giải thích từ ngữ

29. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất; cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

Với quy định trên thì có thể hiểu “Hộ gia đình sử dụng đất” có hai (02) dấu hiệu nhận biết là:

  •  Thành viên gồm những người có quan hệ hôn nhân; huyết thống; nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;
  •  Đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất; cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất (tức là thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Như vậy, đất được cấp cho hộ gia đình thì thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình. Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất; cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.

2. Việc bác anh sử dụng đất hộ gia đình có đúng không?

Theo thông tin anh cung cấp; ông nội anh là người đứng tên mảnh đất hộ gia đình. Trong hộ gia đình đó có ông nội anh, bố anh, mẹ anh, anh trai anh và anh. Như vậy; bác anh không có tên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; vậy nên bác anh không là đồng chủ sở hữu đối với mảnh đất đó. Do đó, việc bác lấy mảnh đất hộ gia đình đi sử dụng là không có cơ sở.

Tuy nhiên, do ông anh đã mất được 3 năm; nếu ông anh mất không để lại di chúc thì phần đất của ông trong thửa đất chung của hộ gia đình mà ông anh sở hữu sẽ thành di sản thừa kế. Khi đó, phần đất của ông sẽ được chia thừa kế theo pháp luật dựa theo hàng thừa kế; những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng một phần bằng nhau. Nếu bác anh yêu cầu chia thừa kế phần đất của ông nội anh trong trường hợp này thì Tòa án vẫn xem xét giải quyết. Tương tự, nếu bố anh mất không có di chúc thì phần sở hữu của bố sẽ chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất; trong đó có mẹ anh, anh trai anh và anh.

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580

3. Người có quyền yêu cầu khởi kiện

Tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền khởi kiện như sau:

Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình; hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tùy theo yêu cầu khởi kiện là gì thì sẽ xác định ai có quyền khởi kiện. Nếu yêu cầu chia tài sản của hộ gia đình; thì mẹ anh hoặc người đại diện hợp pháp của Hộ gia đình mới có quyền khởi kiện vụ án dân sự. Do đó mẹ anh sẽ là người trực tiếp khởi kiện; nếu mẹ anh không thể tham gia thực hiện các thủ tục khởi kiện thì có thể lập văn bản ủy quyền để anh thực hiện các thủ tục đó tại Tòa án.

Còn nếu Tòa án yêu cầu chia thừa kế của bố anh thì anh cũng có quyền khởi kiện.

Tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định về Hòa giải tranh chấp đất đai

Điều 202: Hòa giải tranh chấp đất đai.

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải

Tuy nhiên; chúng tôi khuyến khích các thành viên trong gia đình nên tự hòa giải với nhau. Điều đó là phương pháp tốt nhất giữa các thành viên. Tránh tối đa việc anh em trong gia đình bất đồng, cãi nhau rồi đưa nhau ra khởi kiện.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An . Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ ngay; Luật sư tư vấn đất đai ; – Luật Tuệ An uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác về vấn đề dân sự dưới đây:

LUẬT SƯ TƯ VẤN UY TÍN – CHUYÊN NGHIỆP

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Add Comment