Quy định pháp luật về việc đã rút đơn tố cáo có được tố cáo lại không?

Tố cáo là một phương thức giúp công dân thực hiện quyền dân chủ của mình để đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời đây cũng là cách thức giúp phát hiện kịp thời những sai phạm, hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức cá nhân, từ đó có những biện pháp xử lý nghiêm minh, chính xác. Tố cáo thể hiện bản chất của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vậy nếu người tố cáo rút đơn tố cáo thì có thể tố cáo lại không ? qua bài viết dưới đây Luật Tuệ An cung cấp tới bạn đọc những nội dung pháp lý cơ bản về tố cáo.

Cơ sở pháp lý

Tố cáo là gì? Tổng quan về tố cáo.

Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo năm 2018: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết v hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Thời gian qua, thông qua việc tố cáo với tinh thần trách nhiệm và ý thức tích cực của công dân, sự quyết tâm giải quyết của cơ quan có thẩm quyền, Đảng và Nhà nước ta đã phát hiện và xử lý nhiều sai phạm của cán bộ, đảng viên và những vi phạm, làm trái quy định về quản lý nhà nước, mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế, chính trị, nhất là đối với những vụ tham nhũng lớn, góp phần cũng cố niềm tin của nhân dân.

Tố cáo bao gồm 2 loại:

  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
  • Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ: là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đối tượng sau đây: Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Cơ quan, tổ chức.
Quy định pháp luật về việc đã rút đơn tố cáo có được tố cáo lại không?
Quy định pháp luật về việc đã rút đơn tố cáo có được tố cáo lại không?

Quy định về rút đơn tố cáo

Điều 9 Luật tố cáo năm 2019 quy định về quyền của người tố cáo: 

“1. Người tố cáo có các quyền sau đây:…đ) Rút tố cáo”.

Điều 33 Luật tố cáo năm 2018 quy định về rút tố cáo cụ thể: “1. Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản.

2. Trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật này; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 34 của Luật này. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật này. Người đã rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 9 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết.

4. Người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản.

Trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định.

Người đã rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ của người tố cáo; trừ trường hợp người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết.

Quy định pháp luật về việc đã rút đơn tố cáo có được tố cáo lại không?

Về bản chất, tố cáo được công dân sử dụng khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tố chức, cá nhân.

Đồng thời, việc rút tố cáo được thực hiện trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Như vậy, đối với đơn tố cáo đã được công dân rút tố cáo theo đúng quy định pháp luật, cơ quan có thẩm quyền chưa giải quyết bằng một văn bản, quyết định.

Điều 29 Luật tố cáo năm 2018 quy định về thụ lý tố cáo bao gồm các điều kiện sau:

  • Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật tố cáo năm 2018 (quy định về tiếp nhận tố cáo);
  • Người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;
  • Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo;
  • Nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.

Như vậy, hiện nay không có quy định nào cấm người tố cáo đã rút đơn tố cáo không được tố cáo lại. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho công dân, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của bất kỳ cơ quan, tổ chức cá nhân nào. Công dân thực hiện việc tố cáo theo quy định pháp luật tại Luật tố cáo năm 2018.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về: Quy định pháp luật về việc đã rút đơn tố cáo có được tố cáo lại không?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hồ trợ pháp lý khác; vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn miễn phí. Luật sư chuyên nghiệp, tư vấn miễn phí – 1900.4580.

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580. 

Một số bài viết có liên quan:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.