Quy định về kết hôn cận huyết

Kết hôn cận huyết là tình trạng đã tồn tại từ khá lâu đời tại Việt Nam. Tình trạng này đã dẫn đến nhiều hệ lụy xấu cho sự phát triển văn hóa-xã hội nước ta. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình đã có sự điều chỉnh trực tiếp liên quan tới vấn đề này. Để hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan, Luật Tuệ An xin chia sẻ cùng bạn đọc bài viết Quy định về kết hôn cận huyết.

Cơ sở pháp lý

  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Quy định về kết hôn cận huyết
Quy định về kết hôn cận huyết

Kết hôn cận huyết được hiểu thế nào?

Pháp luật hôn nhân và gia đình không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là kết hôn cận huyết. Tuy nhiên, căn cứ quy định về các trường hợp cấm kết hôn, có thể đưa ra cách nhìn nhất định về kết hôn cận huyết. Theo đó, kết hôn cận huyết là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Cụ thể:

Những người cùng dòng máu về trực hệ ở đây được hiểu là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.

Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

Quy định pháp luật về kết hôn cận huyết

Để có thể đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định. Cụ thể như sau:

(i) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.

(ii) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định.

(iii) Không bị mất năng lực hành vi dân sự.

(iv) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình.

Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình quy định kết hôn cận huyết là một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Do đó, việc kết hôn này sẽ không đáp ứng các điều kiện về đăng ký kết hôn theo luật định. Hay nói cách khác, hai bên nam nữ sẽ không được phép tiến hành đăng ký kết hôn và có được sự thừa nhận, bảo hộ của pháp luật.

Hậu quả của kết hôn cận huyết

Kết hôn cận huyết dẫn đến rất nhiều hệ lụy cho đời sống xã hội. Tiêu biểu có thể kể đến những hệ quả sau đây:

Hậu quả về mặt xã hội

Trước hết, kết hôn cận huyết dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng về sức khỏe. Cụ thể, làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật. Chẳng hạn như bệnh tan máu bẩm sinh khiến trẻ bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, nguy cơ tử vong cao. Hoặc trẻ em sinh ra bị dị dạng và mắc các bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng,….Những bệnh lý này có khả năng di truyền và về lâu dài sẽ gây suy thoái chất lượng giống nòi.

Bên cạnh đó, kết hôn cận huyết còn gây ra những ảnh hưởng xấu về mặt văn hóa, đạo đức. Từ đó, phát vỡ và làm xói mòn những giá trị đạo đức tốt đẹp, truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc ta.

Hậu quả pháp lý

Hiện nay, kết hôn cận huyết là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Do đó, hành vi kết hôn này sẽ không được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Hay nói cách khác, việc kết hôn sẽ không được phép đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, giữa hai bên nam nữ không phát sinh quan hệ vợ chồng.

Bên cạnh đó, hành vi này cũng phải đối mặt với những chế tài xử phạt. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định, hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời sẽ bị xử phạt hành chính theo hình thức phạt tiền. Cụ thể, hành vi này có thể bị xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Ngoài ra, nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng, hành vi này có thể bị truy cứu các tội phạm sau:

  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
  • Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện.
  • Tội loạn luân.

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác về Hôn nhân và Gia đình tại đây:

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Mọi khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.