Vì sao pháp luật cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Từ góc nhìn bê bối tại vụ việc “Tịnh thất bồng lai” thời gian gần đây. Vấn đề kết hôn trong phạm vi ba đời được đặt ra với nhiều bức xúc, phẫn nộ từ phía cộng đồng. Mặc dù pháp luật đã quy định cụ thể, chi tiết song thực tiễn vẫn còn nhiều tồn đọng không được giải quyết. Để khai thác sâu về đề tài này, Luật Tuệ An đã khái quát bài viết “Vì sao pháp luật cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Căn cứ pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình 2014
  • Nghị định 82/2020/NĐ-CP

Thế nào là kết hôn trong phạm vi ba đời

Căn cứ khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình, phạm vi ba đời được xác định như sau:

“Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.”

Có thể khái quát:

  • Đời thứ nhất: cha mẹ
  • Đời thứ hai: anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha
  • Đời thứ ba: anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì

Như vậy, khi những người có họ trong phạm vi 3 đời này xác lập quan hệ vợ chồng với nhau sẽ được xem là kết hôn trong phạm vi 3 đời.

Vì sao pháp luật cấm kết hôn trong phạm vi ba đời
Vì sao pháp luật cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Căn cứ khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, các trường hợp pháp luật cấm kết hôn bao gồm:

“Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”

Nhằm mục đích bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình, bảo vệ truyền thống đạo đức cũng như giảm thiểu hậu quả từ kết hôn cận huyết, kết hôn trong phạm vi ba đời là một trong những trường hợp bị pháp luật cấm.

Lý do cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Hậu quả về mặt sinh học khi kết hôn trong phạm vi ba đời

Các trường hợp kết hôn trong phạm vi ba đời con cái dễ dị tật bẩm sinh, mắc bệnh di truyền.

Khi Gen lặn bệnh lý tồn tại dai dẳng trong dòng họ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nếu cuộc hôn nhân được tiến hành với người khác dòng họ thì nguy cơ bệnh bộc phát thường không cao. Trái lại, hôn nhân cận huyết chính là điều kiện thuận lợi cho những gen lặn bệnh lý tương đồng gặp gỡ nhau, sinh ra những đứa con bệnh tật hoặc dị dạng di truyền như mù màu (không phân biệt được màu đỏ và màu xanh), bạch tạng, da vảy cá, đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia) mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời… Các tác động khác của hôn nhân cận huyết bao gồm gia tăng vô sinh (ở cha mẹ và con cái), dị tật bẩm sinh. 

Một nghiên cứu cho thấy 40% trẻ em cận huyết giữa các cá thể cấp một (gia đình hạt nhân) được sinh ra với các rối loạn lặn NST thường, dị tật thể chất bẩm sinh hoặc suy giảm trí tuệ trầm trọng.

Hậu quả pháp lý của cấm kết hôn trong phạm vi ba đời

Xử lý kết hôn trái pháp luật.

Căn cứ khoản 2 Điều 5, kết hôn trong phạm vi 3 đời là trường hợp bị pháp luật cấm. Như vậy trường hợp này được xác định là kết hôn trái pháp luật và là một trong các căn cứ để Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật. Theo đó, khi tòa án hủy kết hôn trái pháp luật sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý sau:

“1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.” 

Phạt hành chính. 

Tại điểm a, khoản 2, Điều 59 Nghị định 82/2020 quy định rõ, nếu kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người có họ trong phạm vi 3 đời sẽ bị phạt tiền từ 10 – 20 triệu đồng. Cụ thể: 

“ Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;”

Trên đây là tư vấn của Luật Tuệ An về vấn đề “Vì sao pháp luật cấm kết hôn trong phạm vi ba đời”. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ ngay Luật sư tư vấn – Luật sư uy tín, chuyên nghiệp – tư vấn miễn phí 1900.4580.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo một số bài viết khác về Hôn nhân và Gia đình tại đây:

Bấm để đánh giá
[Tổng 0 Điểm trung bình: 0]

Add Comment

Luật Tuệ An © 2020. All Rights Reserved. Powered by AseanTech.